Apr 27, 2017

Các nhà thực dưỡng phương Tây không ăn “Thực dưỡng số 7” vì biết bí mật của Ohsawa

Categories: Tags:

Nhà thực dưỡng Lương Trùng Hưng đọc rất nhiều sách thực dưỡng và giao du rất rộng với giới thực dưỡng phương Tây. Chúng tôi đã thực hiện cuộc phỏng vấn ông để bạn đọc có cái nhìn rộng mở hơn về nghệ thuật thực dưỡng Ohsawa.

 

Không “đùa” với “con dao số 7”

– PV: Phần lớn người Việt khi nói về thực dưỡng đều nghĩ ngay đến “gạo lứt muối mè”. Ý nghĩ như thế có lợi và hại thế nào, thưa ông?

– NTD Lương Trùng Hưng: Nghĩ như thế rất sai lầm nên rất tai hại vì sẽ làm cho phong trào thực dưỡng điêu đứng. Vì khi nghĩ như thế thì họ sẽ ăn gạo lứt muối mè hoài thì dẫn đến suy kiệt nên sau đó không chỉ bỏ gạo lứt muối mè mà cò bỏ luôn thực dưỡng; đồng thời những người chưa ăn thực dưỡng thấy vậy e ngại.

– Thưa ông, trong thực dưỡng, “số 7” có vai trò như thế nào?

– Trong thực dưỡng, “số 7” giúp cơ thể quân bình âm dương rất nhanh. Chính vì nó quá tuyệt vời như thế nên có nhiều người mắc bẫy nó mà không lối thoát. Sở dĩ họ bị mắc bẫy vì cho rằng “số 7” là thuốc tiên nên cứ ăn hoài cho đến khi cơ thể thiếu chất nên kiệt quệ.

Có thể nói “thực dưỡng số 7” như con dao rất bén nếu không biết dùng thì sẽ bị đứt tay hoặc đứt luôn sinh mạng. Vì vậy, hồi xưa Tiên sinh khuyên chỉ ăn “thực dưỡng số 7” tối đa 10 ngày thôi.

Các nhà thực dưỡng phương Tây không ăn “số 7” vì biết bí mật của Ohsawa

Tui nói thế này để thấy rõ hơn. Tiên sinh đã từng bảo ăn “thực dưỡng số 7” gần giống như tuyệt thực để chữa bệnh. Dựa vào lời dạy này có thể lấy ví dụ nếu người nào ăn “thực dưỡng số 7” suốt 4 tháng thì xem như đã tuyệt thực hơn 3 tháng rồi vậy làm sao mà không kiệt quệ hoặc chết cho được. Nói tóm lại, ăn “số 7” kéo dài là tự sát.

Ăn “số 7” không đúng cách không chỉ nguy hiểm mà còn rất khó ăn đối với nhiều người mới nhập môn. Tui không hiểu nổi tại sao phần lớn những nhà thực dưỡng Việt Nam lại khuyên người mới nhập môn thực dưỡng chọn lựa con đường khó khăn và nguy hiểm như thế.

– Vậy con đường nào dễ đi, thưa ông?

– Nếu một người không bị bệnh nặng mà muốn nhập môn thực dưỡng thì không cần phải làm gì ghê gớm hết. Chỉ cần bỏ thói quen ăn bột ngọt, đường và các đồ ăn công nghiệp rồi ăn gạo lứt thay gạo trắng thì mức độ ngăn ngừa bệnh tật đã giảm 50% rồi.

Nếu ai giảm lượng thịt, ăn cá chừng mực, rau củ hợp lý thì sẽ giảm thêm 10%. Nếu ai bị bệnh khó trị hoặc nan y thì mới đầu phải ăn đúng cách kết hợp dùng trợ phương, một vài tháng bệnh giảm hoặc khỏi rồi thì dần dần ăn rộng ra.

Ăn theo cách của tui nói và ông Tài (lương y Trần Ngọc Tài- PV) hướng dẫn thì tiện lợi đủ đường: Ai cũng có thể ăn được, ăn cả đời cũng không biết ngán, cơ thể thích nghi dần dần nên không bị sốc và người thân, bạn bè không phản đối…

– Thưa ông, 2 vị đại đệ tử của Tiên sinh Ohsawa, các nhà thực dưỡng ở Úc, Mỹ và các nước khác trên thế giới có ăn “số 7” không?

– Không. Hoàn toàn không. Sở dĩ họ không ăn “số 7” là vì họ biết rất rõ về Tiên sinh. Họ bảo rằng lúc còn trẻ, Tiên sinh thường ăn “số 7” để thử nghiệm. Lúc đó ngài thấy rất hay. Nhiều lần ngài làm thế nên càng lớn tuổi cơ thể càng suy kiệt cho nên sau những cuộc diễn thuyết, ngài thường nằm liệt giường. Vì vậy, nên trước khi mất, Tiên sinh quyết tâm nghiên cứu một loại thuốc trường sinh.

Hiểu như thế và nhìn thấy trong thực tế có nhiều người ăn “số 7” không đúng cách đã suy kiệt nên sau khi Tiên sinh mất, toàn bộ đệ tử của ngài họp thống nhất lái “số 7” vào dĩ vãng, nghĩa là không khuyến khích đại chúng ăn “số 7”.

Tuy nhiên, vì nhận thấy “số 7” tuyệt vời quá nên sau này, hầu hết các đệ tử của Tiên sinh mỗi khi tụ họp vẫn cùng nhau nói về nó. Và họ kết luận rằng “số 7” chỉ nên để dành cho những người thật sự hiểu biết nghệ thuật thực dưỡng sử dụng vào việc giúp người bị bệnh khó trị hoặc nan y nhanh quân bình. Nghĩa là người bình thường muốn dùng “số 7”, phải có người hiểu biết về thực dưỡng theo dõi, hướng thật cụ thể.

Còn đối với những nhà thực dưỡng thật sự, các đệ tử của Tiên sinh đều khuyên nên ăn “số 7” để thử nghiệm. Ví dụ như có lần tui làm bộ hỏi 2 vị đại đệ tử rằng: “Thầy ơi đệ tử thỉnh thoảng ăn số 7 được không?”. Cả 2 ngài đều nói: “Bạn dùng “số 7” thì tuyệt vời bởi vì bạn giỏi rồi, nhưng bạn đừng bảo người ta dùng nha”.

– Không ăn “số 7” thì họ ăn như thế nào để cơ thể quân bình, thưa ông?

– Họ ăn thực dưỡng hiện đại. Chủ yếu họ ăn ngũ cốc lứt như: gạo lứt, bún gạo lứt làm từ lúa mì, yến mạch lứt, bánh mì lứt (ăn ít vì là món nướng dễ gây ung thư). Thức ăn phụ họ ăn rất đa dạng: cá con (nếu cá lớn thì nấu đến xương mềm rồi ăn luôn), tép con, thỉnh thoảng ăn thịt gà vì ít độc tố và độ dinh dưỡng cao (hoàn toàn không ăn thịt bò và heo) và ăn nhiều loại rau củ.

– Thưa ông, ngoại hình và sức khỏe của người ăn thực dưỡng ở Úc và Mỹ như thế nào?

– Họ mạnh khỏe, cân đối lắm vì họ ăn thực dưỡng đúng nghĩa như tui vừa nói, trong khi nhiều người ăn dưỡng Việt Nam vừa lạm dụng số 7 vừa ăn khô khan nên người gầy héo.

 

– Nhìn chung thì nghệ thuật thực dưỡng VN và phương Tây giống và khác nhau như thế nào?

– Điểm giống cơ bản là lấy gạo lứt làm thức ăn chính để ăn với thức ăn tự nhiên. Còn điểm khác rõ nét nhất là họ không dùng số 7 như VN và tư tưởng của họ thoáng hơn nên ăn uống rộng mở hơn.

– Không ít nhà thực dưỡng Việt Nam cho rằng, khi đã theo thực dưỡng rồi thì không cần các nền y học khác hỗ trợ. Các nhà thực dưỡng phương Tây có quan niệm như thế không, thưa ông?

– Các nhà thực dưỡng ở Mỹ và Úc không cực đoan nên dẫu họ không dùng thuốc Tây nhưng rất biết tận dụng cái lợi ích của y khoa trong những trường hợp đặc biệt như bệnh nguy kịch cấp thiết hoặc bị chấn thương gãy xương, toác thịt…

Ví dụ như họ bị một vết cắt thiệt sâu và dài thì sẽ đến bác sĩ khâu lại rồi về nhà ăn thực dưỡng sẽ nhanh lành lắm và rất ít đau đớn. Điều này có nghĩa là bác sĩ không làm cho cơ thể người đó lành mà chỉ tạo điều kiện thuận lợi để cơ thể tự chữa vết thương. Bác sĩ chỉ chữa phần ngọn thôi, cái chính là cơ thể tự chữa.

Ví dụ nữa là những người đang nguy kịch đến tính mạng cần phải chữa ngay như chấn thương sọ não nếu dùng thực dưỡng để quân bình cơ thể thì ít nhứt là phải mất 10 ngày, trong khi bệnh này chậm một vài giờ là chết rồi.

Vì vậy Tây y có nhiệm vụ dùng trụ sinh để giết vi trùng xong, tạm thời dùng thuốc Tây để khỏe lên chút ít rồi mình áp dụng thực dưỡng. Khi thấy khoe khỏe rồi thì từ từ giảm thuốc Tây rồi bỏ hẳn luôn thì rất tốt.
– Có một số nhà thực dưỡng VN đã xem Tiên sinh như một vị thánh. Các nhà thực dưỡng phương Tây có thần thánh hóa Tiên sinh không, thưa ông?

– Không. Họ xem Tiên sinh là một bậc thầy rất đạo đức, rất là giỏi, chứ họ không xem ngài là vị thánh. Vì họ cho rằng, nếu thần thánh hóa ngài thì sẽ sai mục đích. Vì Tiên sinh muốn người đời học nghệ thuật thực dưỡng thôi chứ đâu muốn ai tôn sùng mình. Chính ngài đã từng tuyên bố: Ta mong thế hệ sau phải giỏi hơn ta.

– Ông có thể đánh giá thế nào về những nhà thực dưỡng Việt Nam?

– Tui rất buồn là phần lớn nhà thực dưỡng Việt Nam rất cực đoan, trong khi chỉ có một vài người, đơn cử như ông Tài có cái nhìn toàn diện và am hiểu sâu rộng về thực dưỡng. Có lẽ vì vốn tiếng Anh của các nhà thực dưỡng Việt Nam chưa tốt nên hạn chế về tầm nhìn.

Do chưa có tầm nên các nhà thực dưỡng VN chỉ biết ăn ngũ cốc và rau củ, trong khi các nhà thực dưỡng phương Tây ăn đủ hết. Họ “ăn” ánh nắng, “ăn” không khí trong lành, thường xuyên cho cơ thể “ăn” nước biển, cho nên thường đi tắm nắng, tắm cát, bơi lội…

– Thưa ông, nhà thực dưỡng giỏi phải như thế nào?

– Những nhà thực dưỡng lâu năm mà chỉ quanh quẩn với “số 7”, “số 6”, “số 5” hoặc số nọ số kia là những người vẫn còn ở lớp mẫu giáo. Nhà thực dưỡng giỏi là thường ngày lấy cơm lứt và ngũ cốc lứt làm chính và ăn rau củ thiên nhiên.

Nhưng vì lý do nào đó, ví dụ đi ra xa, vào rừng, ở ngoài biển khơi… thì cái gì cũng ăn nhưng phải biết ăn như thế nào, chế biến làm sao để ăn, ăn vào thời điểm nào, nếu lỡ ăn một bữa quá sai lầm thì xử lý như thế nào…

Tui lấy ví dụ khó tin nhưng có thật thế này. Vì biết tin Tiên sinh Ohsawa đã nhiều lần thử nghiệm ăn uống các món rất độc hại rồi hóa giải thành công, các nhà y khoa Pháp “thách” ngài uống một ly nước có các loại vi trùng rất nguy hiểm là dịch tả, dịch hạch, kiết lị. Ngài không chút e ngại, uống liền rồi ăn “số 7” mà không có mè để “tiêu diệt” vi trùng nên vẫn khỏe mạnh như thường.

Người có kinh nghiệm thực dưỡng còn nhìn nhận âm dương rất linh động. Ví dụ như tui nhận thấy trái chuối rừng rất âm nhưng con khỉ trong rừng ăn rất nhiều chuối mà không sao vì leo trèo nhảy nhót tối ngày nên cơ thể vẫn dương như thường.

– Xin cảm ơn ông!

Cách tự nhận biết ung thư để điều trị sớm bằng thực dưỡng

Categories: Tags:

Nhận biết ung thư và biết tự chữa bằng thực dưỡng là rất quan trọng, bệnh sẽ chóng khỏi, tiết kiệm được rất nhiều tiền và quan trọng nhất là giành lại được sự sống. Bài viết xin giới thiệu một số nội dung trong tài liệu tổng kết những dấu hiệu cảnh báo ung thư của bác sĩ Nguyễn Văn Thụy ở Hiệp hội Phòng chống Ung thư Quốc tế để bạn đọc tham khảo.

Các dấu hiệu bất thường không thể bỏ qua

Năm 1985, ông Nguyễn Văn Hai ở huyện Bình Chánh – TP. HCM thấy mình có khối u to bằng đầu ngón tay ở mí mắt trái. Nghi bị ung thư, ông Hai đi khám và các bác sĩ kết luận ông bị ung thư phổi và ung thư đại tràng. Không chấp nhận phẫu thuật, ông Hai về nhà tự chữa bệnh bằng thực dưỡng. Và sau 40 ngày ăn gạo lứt muối vừng, ông Hai đã kiểm soát được cả hai bệnh ung thư nói trên.

Biết sớm ung thư và biết tự chữa bằng thực dưỡng là rất quan trọng, bệnh sẽ chóng khỏi, tiết kiệm được rất nhiều tiền và quan trọng nhất là giành lại được sự sống. Đến nay ông Hai vẫn sống khỏe mạnh. Sở dĩ ông biết sớm được bệnh ung thư là nhờ đọc tài liệu của tiến sĩ – bác sĩ Nguyễn Văn Thụy ở Hiệp hội Phòng chống Ung thư Quốc tế. Tài liệu tổng kết những dấu hiệu cảnh báo ung thư. Chúng tôi xin tóm lược tài liệu của bác sĩ Thụy như sau:

Triệu chứng của ung thư có thể là dấu hiệu báo động toàn thân, không liên quan đến một cơ quan nào trong cơ thể hoặc ngược lại, có liên hệ với nơi có khối u hoặc với các di căn ung thư. Phần nhiều những dấu hiệu đó không phải là biểu hiện riêng của ung thư. Bởi vậy, bệnh nhân, thậm chí cả bác sĩ thường ít để ý vì cho rằng chúng chỉ là biểu hiện của những bệnh khác nhẹ hơn. Chỉ khi đi khám mới phát hiện ung thư.

Dấu hiệu toàn thân:

Những dấu hiệu này rất đa dạng, có thể bộc lộ đơn độc trong một thời gian dài mà không có biểu hiện đặc biệt nào của ung thư. Nếu chúng tồn tại lâu hoặc nặng thêm thì sẽ là những dấu hiệu cảnh báo ung thư. Dấu hiệu toàn thân có thể là chán ăn, đặc biệt là sợ thịt, sụt cân nhiều, sốt dai dẳng không do nguyên nhân nhiễm khuẩn, điều trị mọi cách không hết sốt, mệt mỏi kéo dài.

Ba dấu hiệu báo động:

– Chảy máu: Chảy máu nhiều hay ít cũng là dấu hiệu báo động. Chảy máu do các mạch máu bị khối u xâm lấn hoặc do vỡ các mạch máu nằm giữa các mô ung thư. Nhổ ra máu hoặc chảy máu mũi có thể do ung thư miệng, họng, xoang, thực quản. Nếu bị ung thư phổi thì khạc đờm ra máu. Tiểu tiện ra máu là do ung thư thận, bàng quang hoặc tuyến tiền liệt.

Ở bệnh nhân nữ, chảy máu âm đạo ngoài thời kỳ hành kinh, hoặc khi giao hợp, hoặc sau khi đã mãn kinh có thể do ung thư tử cung hoặc ung thư âm đạo. Đại tiện ra máu thường là dấu hiệu đầu tiên của ung thư đại tràng. Nôn ra máu thường do ung thư thực quản hoặc ung thư dạ dày.

– Đau: Đau cũng là dấu hiệu báo động quan trọng. Đó là đau cố định một chỗ, đau liên tục càng ngày càng nặng, dùng thuốc giảm đau không đỡ. Đau đầu mãn tính lúc đầu có thể là dấu hiệu duy nhất của ung thư não. Đau bụng dai dẳng hoặc đau thành cơn có thể là dấu hiệu báo động ung thư của một cơ quan sâu, thí dụ như đại tràng.

– Nhiễm khuẩn: Mọi trường hợp nhiễm khuẩn lặp đi lặp lại và không khỏi khi dùng thuốc kháng sinh đều có thể là dấu hiệu báo động của ung thư. Đó là vì chứng bệnh này tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển và gây nhiễm khuẩn bằng cách làm suy yếu hệ miễn dịch.

Những dấu hiệu báo động khác:

Viêm tĩnh mạch: Thường là viêm tĩnh mạch các chi dưới. Điều này đôi khi cũng là dấu hiệu đầu tiên của ung thư. Đó là vì khối u trong ổ bụng hoặc trong khung chậu đã chèn ép tĩnh mạch gây viêm tĩnh mạch và các mô ung thư tiết ra một số chất tạo thành cục máu đông.

Một số dấu hiệu báo động có thể nhìn thấy hoặc sờ thấy. Nếu sờ thấy một cục nhỏ hoặc một vùng cứng bất thường ở da, cơ, vú, tinh hoàn mà những tổn thương vùng này tồn tại lâu hoặc to lên thì đó là dấu hiệu báo động ung thư. Da tự dưng nổi gồ lên không đều, bị loét lâu không khỏi và lan rộng ra là dấu hiệu ung thư da. Nếu thấy nổi mụn cơm, mụn cóc, nốt ruồi dày lên, thay đổi màu sắc hoặc chảy máu thì phải đi khám ngay.

Xác định cơ quan bị ung thư

Miệng, họng, xoang hàm và thực quản bị ung thư thì nhai thấy vướng hoặc đau lên tai, khản giọng kéo dài là ung thư họng, đau, nuốt nghẹn, nôn là ung thư thực quản. Khó thở tăng dần hoặc đột ngột thường là dấu hiệu đầu tiên của ung thư phổi. Ho dai dẳng ở người nghiện thuốc lá cũng cần nghĩ tới ung thư phổi.

Có cảm giác nặng ở thượng vị và táo bón là dấu hiệu đầu tiên của ung thư hệ tiêu hóa. Mót đại tiện mà đi không ra phân, cảm giác nặng và đau ở trực tràng cũng là dấu hiệu ung thư hệ tiêu hóa. Vàng da tiến triển nhanh có thể là dấu hiệu ung thư cuống mật hoặc ung thư gan.

Tiểu khó, bí tiểu hoặc tiểu ra máu có thể là dấu hiệu đầu tiên của ung thư cơ quan tiết niệu hoặc ung thư tuyến tiền liệt ở nam giới. Một hoặc nhiều hạch ở cổ, nách hoặc bẹn to lên là triệu chứng đầu tiên của ung thư cơ quan sâu hoặc ung thư hạch. Đau đầu mãn tính, rối loạn thị giác, liệt tay chân, thay đổi tính tình, nôn vào buổi sáng là dấu hiệu của ung thư màng não.

Chẩn đoán ung thư cũng được y học phương Đông nói đến từ lâu. Thiền sư Tuệ Tĩnh chia các loại khối u thành hai dạng chính là ung và thư. “Ung là tắc lại mà sưng to, thư là trệ lại mà đau dữ. Ung thuộc phần dương do tích nhiệt ở lục phủ mà sinh ra, bỗng mọc ra ngoài da, thực hình nó to mà nhô cao lên, đau nhức dữ dội.

Thư thuộc phần âm, do phong độc tích tụ ở ngũ tạng phát ra cơ nhục, phát bệnh rất hiểm độc, ban đầu mọc một cái ngòi mờ mờ sắc trắng khô đét, chạm vào đau thấu tim. Cho nên ung thì dễ chữa mà thư thì khó chữa. Ung thư là một bệnh nguy hiểm hàng đầu. Bệnh tính cấp cho nên việc điều trị cần lúc mới phát, ví như chữa cháy phải chữa ngay mới lúc phát hỏa.

Để xét hư thực, dùng tay ấn vào, nếu ấn nặng tay mới đau là bệnh đã sâu, chỉ khẽ ấn đã đau là bệnh còn nông, ấn vào lõm xuống, cất tay lên hết lõm là có mủ, ấn tay vào, lấy tay lên không lún là không có mủ, nếu ấn tay đều cứng là chưa có mủ, nửa cứng nửa mềm là có mủ.

Sờ vào phía trên, phía dưới đều không nóng là không có mủ, thấy nóng là có mủ. Có mủ thì kịp phá cho vỡ đi, nếu không có mủ thì chỉ là chứng khí thủng hoặc có huyết thì phải cẩn thận, chớ nên châm trích khêu mà chỉ nên dùng thuốc đắp hoặc cao dán để hút độc”.
Bác sĩ Nguyễn Văn Thụy viết rằng: “Trước khi một bộ phận trong cơ thể phát sinh ung thư đều trải qua một thời gian rối loạn gọi là thời kỳ tiền ung thư, có thể nhận biết ung thư nhờ xem những dấu hiệu biểu lộ ở lòng trắng mắt. Những đốm đen, sẫm xuất hiện ở phần trên của lòng trắng cho thấy xoang mũi và hệ hô hấp có vấn đề. Nếu những đốm đen xuất hiện phần dưới của lòng trắng là thận và buồng trứng có vấn đề.

Có những mảng hoặc vệt xanh dương, xanh lục hoặc nâu nhạt, hoặc những mảng trắng nằm hai bên con ngươi cho thấy gan, mật, tụy, lá lách có vấn đề. Những mảng vàng hoặc trắng, xám xuất hiện ở phần dưới nhãn cầu cho thấy tuyến tiền liệt hoặc bộ phận sinh dục nữ có vấn đề.

Màu da thay đổi ở đâu cũng đều có vấn đề xảy ra ở cơ quan nào đó. Vệt bầm nằm hai bên má là ung thư phổi. Vệt bầm nằm dọc cạnh bàn tay thì ung thư ruột non. Vệt bầm nằm quanh phần thịt giữa ngón tay cái và ngón trỏ là ung thư đại tràng. Vệt bầm ở lưng ống quyển, đặc biệt ở dưới đầu gối là ung thư dạ dày, nếu nằm sau đầu gối là ung thư gan. Vệt bầm nằm ở bụng chân hoặc dưới mắt cá chân là ung thư túi mật.

Hàng ngày cần phải quan sát cơ thể, cảnh giác với mọi sự thay đổi khác thường. Nên đi khám để biết bệnh sớm. Điều trị ung thư nên tin ở phương pháp thực dưỡng. Không chỉ người bình thường mà cả hàng nghìn bác sĩ ở các nước có nền y học tiên tiến nhất, khi bị ung thư cũng chọn phương pháp thực dưỡng để chữa trị cho mình và họ đã khỏi bệnh”.

Tuy nhiên không phải ai cũng hợp với Gạo lứt muối vừng, và việc ăn bừa bãi gạo lứt muối vừng lại có thể gây ra phản tác dụng với cơ thể do người bệnh chưa biết rõ tỉ lệ gạo – muối – vừng ra sao.

Cả đời không lo bệnh tim mạch nếu biết cách ăn uống như thế này

Categories: Tags:

Mùa thu cây rụng lá, thời tiết thay đổi thất thường. Mùa đông cây tàn lá úa, nhiều động vật ngủ đông, vạn vật ngưng trệ, bệnh tim mạch diễn biến xấu. Vì vậy, dinh dưỡng cũng cần phải điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện thời tiết khắc nghiệt.

Thánh y Kỳ Bá viết rằng: “Bệnh nhân tim mạch nếu sống qua được mùa đông, sang xuân bệnh sẽ lui dần”. Điều này chứng tỏ thời tiết ảnh hưởng mạnh mẽ đến bệnh nhân tim mạch.

Việt Nam thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, khác với vùng ôn đới và hàn đới. Trên cơ sở lý thuyết của tiến sĩ y khoa Stein và học thuyết thực dưỡng của GS Ohsawa, bác sĩ Nguyễn Văn Khuê và chuyên gia ẩm thực Phạm Cao Hoàng đã nghiên cứu tìm ra thực đơn 4 mùa của người Việt, nhất là người cao tuổi.

Thực đơn mùa xuân

Ngày Chủ nhật: Buổi sáng ăn cơm gạo lứt, canh tương truyền thống, uống trà lá già. Bữa trưa phở gạo lứt, bánh đa nướng, uống cà phê ngũ cốc. Bữa tối ăn cơm gạo lứt, đậu hũ kho với phổ tai, cà rốt nấu với hành, cải xoăn hấp, bánh giày, uống trà lá già.

Ngày thứ hai: Bữa sáng ăn bánh mỳ pha bột gạo lứt. Bữa trưa ăn canh tương truyền thống nấu với củ cải, cơm gạo lứt hấp tàu hũ, uống trà lá già. Bữa tối ăn cơm gạo lứt với canh đậu Hà Lan, súp lơ nấu đậu hũ, phổ tai nấu với củ hành dầm nước tương truyền thống, uống trà bồ công anh.

Ngày thứ ba: Bữa sáng ăn cơm gạo lứt, uống trà cành. Bữa trưa ăn đậu hũ, xà lách nấu với bồ công anh, uống trà lá già. Bữa tối ăn cơm gạo lứt nấu với đậu đen, ăn với dưa cải, rong biển, hành củ, tráng miệng bằng cơm rượu nếp.

Ngày thứ tư: Bữa sáng ăn canh tương truyền thống nấu với hành và phổ tai, bánh giầy nướng hoặc củ mài ăn với rong tóc tiên. Bữa trưa ăn cơm nắm gạo lứt, bắp cải luộc chấm tương chanh, uống trà cành. Bữa tối ăn cơm gạo lứt, đậu phụ, trứng chim cút, rau củ thập cẩm hầm, súp lơ muối, uống trà lá già.

Ngày thứ năm: Buổi sáng ăn bột gạo lứt hoặc phổ tai nấu với kê, hoặc bánh mỳ đỏ. Bữa trưa ăn bún gạo lứt với tương truyền thống, cà rốt, rau cần, uống café ngũ cốc. Bữa trưa ăn cơm gạo lứt với rau củ, canh cà rốt nấu với rong tóc tiên. Uống trà lá già.

Ngày thứ sáu: Bữa sáng ăn bột gạo lứt, canh hành lá, uống trà lá già. Bữa trưa ăn bánh mỳ đỏ, xà lách. Uống trà cành. Bữa tối ăn cơm gạo lứt nấu đậu đỏ, canh phổ tai nêm mơ muối, rau củ xào, chế sốt bột sắn dây. Uống trà lá già.

Ngày thứ bảy: Bữa sáng ăn tương truyền thống nấu với phổ tai hoặc kê bung ăn với bánh mỳ đỏ. Bữa trưa ăn tương truyền thống, canh bún gạo lứt, rau cần cà rốt. Uống cà phê ngũ cốc. Bữa tối ăn cơm gạo lứt, canh cà rốt nấu rong tóc tiên. Uống trà lá già.

Thực đơn mùa hè

Ngày Chủ nhật: Bữa sáng ăn canh tương truyền thống nấu với rong tóc tiên và củ cải. Đậu hũ ăn với gừng. Uống trà lá già. Bữa trưa kê nấu súp với hạt ngô tươi. Tráng miệng bằng dưa hấu. Uống trà dâu ngô. Bữa tối ăn cơm gạo lứt nấu với đậu đỏ, phổ tai. Thức ăn là củ cải, dưa muối. Uống trà lá già.

Ngày thứ hai: Bữa sáng ăn cơm gạo lứt nấu rong tóc tiên. Thức ăn là củ cải đỏ dầm tương truyền thống. Uống trà lá già. Bữa trưa ăn bún gạo lứt cộng bắp cải cà rốt. Uống cà phê ngũ cốc. Bữa tối ăn cơm gạo lứt nấu lẫn với hạt ngô tươi. Thức ăn là canh đậu trứng cút hoặc đậu trắng và bắp cải xào, đậu hũ nấu rong tóc tiên. Uống trà lá già.

Ngày thứ ba: Bữa sáng ăn đậu hũ trộn với hạt ngô non tươi hoặc bánh mỳ gạo lứt. Uống trà lá già. Bữa trưa canh tương nấu với vừng và bắp cải, hạt ngô tươi nấu với hành củ. Uống trà tươi. Bữa tối ăn cơm gạo lứt, canh phổ tai nấu với cà rốt hoặc dưa chuột nướng chấm với nước tương chanh. Uống trà gạo lứt rang.

Ngày thứ tư: Ăn xôi nếp than hoặc nếp cẩm cùng với bột đậu xanh và dưa muối. Bữa trưa ăn hạt ngô tươi hầm với đậu đen. Uống trà lá già. Bữa tối đậu Hà Lan, canh rau cần, bắp cải nấu với vừng và xốt mơ muối. Uống trà lá già.

Ngày thứ năm: Bữa sáng ăn canh tương truyền thống nấu với hành củ, bánh đa gạo lứt. Uống trà lá già. Bữa trưa ăn phở gạo lứt, nước xốt rong phổ tai cùng dưa chuột, xà lách, nước tương. Uống café ngũ cốc. Bữa tối ăn cơm gạo lứt với canh súp lơ nấu với phổ tai và nước tương và hành tây. Có thể dùng thêm dưa muối dầm tương, cải xoăn hấp. Uống trà lá già.

Ngày thứ sáu: Bữa sáng ăn xôi nấu với đậu đen, uống trà tươi. Bữa trưa ăn đậu hũ xào với rau củ. Uống trà gạo lứt rang. Bữa tối ăn cơm gạo lứt nấu với hạt sen. Thức ăn là cà rốt nấu với hành củ bắp cải, hoặc củ cải đỏ nấu với phổ tai và nước tương. Uống trà cành.

Ngày thứ bảy: Bữa sáng ăn kê và hạt ngô hầm, thức ăn là hành củ hầm với nước tương. Uống trà lá già. Bữa trưa ăn cơm nắm với tương hột, dưa chuột. Uống trà cành. Bữa tối cơm gạo lứt nấu với hạt ngô tươi. Thức ăn là rong tóc tiên nấu với đậu nành, củ cải trộn vừng và nước tương. Uống trà tươi.

Thực đơn mùa thu

Ngày Chủ nhật: Buổi sáng ăn bánh mỳ đen chấm tương cổ truyền, uống trà lá già. Bữa trưa ăn cơm gạo lứt. Thức ăn là canh tương nấu củ cải, phổ tai, đậu phụ rán dầu, uống trà tươi. Bữa tối ăn cơm gạo lứt, thức ăn là súp củ cải, bắp cải xào tương, phổ tai, dưa muối dầm tương. Uống thêm 1 cốc nước táo Tây. Uống trà gạo lứt rang.

Ngày thứ hai: Bữa sáng ăn xôi ngô và 1 quả mơ muối, củ cải muối, dưa muối, nước tương. Uống trà lá già. Bữa trưa ăn cơm gạo lứt chiên với hành củ và súp tương miso. Uống trà tươi. Bữa tối ăn kê nấu bí đao với canh súp lơ, dưa muối. Uống trà gạo lứt rang.

Ngày thứ ba: Bữa sáng ăn cơm nắm gạo lứt trộn đậu đen, hạt sen. Uống trà tươi. Bữa trưa ăn bún gạo lứt xào tương truyền thống, món rau là xà lách trộn giấm. Uống café ngũ cốc. Bữa tối cơm gạo lứt, canh dưa muối, đậu phộng, hành lá, bắp cải, củ cải dầm tương, 1 quả mơ muối.

Ngày thứ tư: Bữa sáng ăn xôi nếp than nấu với lạc. Uống trà gạo lứt rang. Bữa trưa ăn mì gạo lứt nấu tàu hũ. Uống trà lá già. Bữa tối ăn súp củ sen nấu tương truyền thống, dưa bắp cải và dưa hành muối, 1 bát nhỏ bí đỏ nướng đánh nhuyễn. Uống trà gạo lứt rang.

Ngày thứ năm: Bữa sáng ăn bánh mỳ đen hoặc bánh bột gạo lứt nướng. Uống café ngũ cốc. Bữa trưa cơm gạo lứt nắm với súp phổ tai, đậu hũ xào rau củ. Uống trà tươi. Bữa tối cơm gạo lứt nấu với đậu đỏ. Thức ăn là súp bầu bí, tàu hũ, phổ tai, cà rốt. Uống trà gạo lứt rang.

Ngày thứ sáu: Bữa sáng ăn bánh đa nướng, súp bầu bí, hành củ. Uống trà lá già. Bữa trưa ăn bánh mỳ đen với súp lơ xào đậu hũ, củ sen. Uống trà gạo lứt rang. Bữa tối ăn xôi đậu đỏ, súp cải xoăn cà rốt. Phổ tai xào củ cải khô. Uống café ngũ cốc.

Ngày thứ bảy: Bữa sáng ăn kê nấu với hạt sen, dưa cải muối. Uống trà cành. Bữa trưa ăn xôi nếp than nấu với đậu đỏ. Thức ăn là muối vừng. Uống café ngũ cốc. Bữa tối cơm gạo lứt chiên với rau củ. Thức ăn là súp cải xoong, dưa chua tương. Nên ăn thêm 1 bát súp ngô. Uống trà lá già.

Thực đơn mùa đông

Ngày Chủ nhật: Bữa sáng ăn cơm gạo lứt nấu đậu đen với súp tương phổ tai. Uống trà tươi. Bữa trưa ăn mỳ gạo lứt nấu rau củ, cà rốt, hành lá. Uống café ngũ cốc. Bữa tối cơm gạo lứt muối vừng. Súp đậu đỏ. Bắp cải xào cà rốt cần tây, phổ tai, dưa muối dầm nước tương magi. Uống trà cành.

Ngày thứ hai: Bữa sáng ăn bánh mỳ đen. Uống trà lá già. Bữa trưa đậu hũ nhồi rau củ. Súp tương truyền thống. Uống trà gạo lứt rang. Bữa tối ăn cơm gạo lứt cộng với rau củ hạt sen, đậu nành. Thức ăn gạo bếp, muối vừng, tàu hũ xào cà rốt. Uống trà cành.

Ngày thứ ba: Bữa sáng ăn kê nấu với bí xanh, súp tương truyền thống nấu với khoai mài. Uống trà tươi. Bữa trưa ăn bún gạo lứt với dưa, củ cải dầm nước tương. Uống trà lá già. Bữa tối cơm gạo lứt nấu với đậu đỏ, ăn với súp củ cải, tàu hũ, ngưu bàng, cải xoong, xà lách luộc, dưa cải muối. Uống café ngũ cốc.

Ngày thứ tư: Bữa sáng ăn cơm gạo lứt nắm chấm muối vừng, dưa cải muối. Uống trà cành. Bữa trưa phá xí bắp cải, nhồi rau củ xào. Uống trà tươi. Bữa tối cơm gạo lứt nấu với đỗ đen. Thức ăn là dưa củ cải, cải xoăn, cà rốt hấp, phổ tai thái nhỏ. Uống trà lá già.

Ngày thứ năm: Bữa sáng ăn bánh đa gạo lứt nướng và 1 cốc bột sắn dây. Uống café ngũ cốc. Bữa trưa ăn cơm gạo lứt với đậu hũ, rau củ xào dầu và muối vừng. Uống trà gạo lứt rang. Bữa tối, cơm chiên. Thức ăn là bầu bí luộc, dưa củ cải, hành củ nhúng nước sôi, 1 chén rượu nếp than. Uống trà lá già.

Ngày thứ sáu: Bữa sáng ăn bánh giày nướng phồng, ăn với củ hành muối hoặc củ cải muối. Uống trà tươi. Bữa trưa trẻ đậu đỏ hầm hạt sen. Uống trà cành. Bữa tối súp lơ nấu với tàu hũ, củ cải, phổ tai luộc chấm nước tương. Uống cà phê ngũ cốc.

Ngày thứ bảy: Bữa sáng ăn bột gạo lứt nấu thành hồ đặc. Thức ăn là súp tương nấu hành củ. Uống trà lá già. Bữa trưa ăn cơm gạo lứt nấu với đỗ đen. Thức ăn là súp lơ nấu với đậu hũ. Uống trà gạo lứt rang. Bữa tối bún gạo lứt nấu rau cải xoăn. Một bát con rượu nếp trắng. Uống trà cành.

Nếu đã chẳng may mắc bệnh tim mạch rồi, người bệnh có thể tham khảo sử dụng Cardio Zest để ổn định huyết áp và giúp cải thiện hệ tim mạch.

Hạnh phúc đón chào con yêu nhờ áp dụng giải pháp tổng hợp chữa liệt dương

Categories: Tags:

Liệt dương khác với rối loạn cương dương. Bị rối loạn “cương dương”, thi thoảng các quý ông vẫn “se chỉ luồn kim” được, còn liệt dương thì tịt hẳn. Chồng liệt dương, vợ không có con. Nếu làm thủ thuật thụ tinh trong ống nghiệm thì có thể phải mua tinh binh của người khác.

Hiện chưa có loại thuốc cụ thể nào chữa được liệt dương. Cách khắc phục duy nhất là một giải pháp tổng hợp, bồi dưỡng nguyên khí, sinh lực và nội lực bằng ăn uống.

Kiêng hoàn toàn bia nước ngọt, trà đá và các loại nước uống có ga.

Về ăn uống có thể ăn theo thực dưỡng

Cơm gạo lứt

Các quý ông nên ăn 60% gạo lứt muối vừng trong suốt thời gian dùng ba loại rượu trên. Bốn mươi phần trăm còn lại gồm: Các loại rau cải, củ sen, cá cơm khô rang giòn, cá quả đực rán hoặc kho nhạt. Rau sống dùng rau diếp, ngọn lá đinh lăng, lá hẹ.

Quá trình chữa liệt dương cần kiêng tất cả các loại cà, kể cả cà chua, kiêng măng, các loại nấm, các loại thịt động vật, kể cả thịt dê. Đây là cách ăn lập lại quân bình âm dương tốt nhất. Cơ thể được lập lại quân bình âm dương sẽ tạo điều kiện cho ba loại rượu nói trên phát huy tối đa tác dụng.

Một tuần có thể ăn hai bữa món xích tiểu đậu, phổ tai và bí ngô. Xích tiểu đậu và phổ tai mua ở cửa hàng thực dưỡng.

Cách làm: Nửa bát xích tiểu đậu, hai miếng phổ tai 2,5×2,5cm, hai bát bí ngô cắt hình con cờ, 2g muối biển. Cho xích tiểu đậu và phổ tai vào nồi nấu trước. Khi đậu nhừ thì cho bí ngô vào, tiếp tục nấu cho bí nhừ. Dùng đũa đánh nhừ tất cả thành cháo đặc và ăn khi còn nóng.

Trà xích tiểu đậu, phổ tai

Thức uống phải hoàn toàn là trà xích tiểu đậu, phổ tai. Đây là loại nước uống có ích cho thận và cậu nhỏ. Nguyên liệu gồm: Một nửa bát xích tiểu đậu, một miếng phổ tai 5x7cm, ba bát nước lã, 1g muối biển.

Cách làm: Rửa sạch xích tiểu đậu, cho phổ tai và nước vào nấu. Khi thấy nước cạn cho thêm một bát nước lã vào nấu tiếp, lặp lại như thế hai lần cho đến khi đậu nhừ. Cho muối vào nấu thêm 20 phút nữa. Lọc lấy nước uống khi còn nóng. Mỗi ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 1/2 bát. Khi thật khát mới uống.

Gạo lứt muối vừng có nhiều lợi ích cho sức khỏe

Chữa liệt dương theo cách này hiệu quả cao, hơn 90% khỏi bệnh. Đọc qua thấy phức tạp, nhưng thực chất rất đơn giản. Cơm gạo lứt nấu đơn giản. Muối vừng làm rất đơn giản. Các loại rau cải có thể luộc, chấm nước tương cổ truyền, xào với dầu vừng. Nên thay đổi cách nấu để không chán.

Muốn khỏi bệnh phải thực hiện thật nghiêm những chỉ dẫn trên. Nếu không thực hiện nghiêm sẽ không khỏi. Ăn mỡ động vật hoặc thịt động vật thì cơm gạo lứt muối vừng cũng hết tác dụng.

Kiêng khem, đường và các loại sữa động vật, chỉ có thể uống sữa đậu nành nhưng không pha đường và không dùng đá. Không dùng sữa đậu nành đóng hộp hoặc chai, chỉ uống sữa đậu nành nguyên chất, chế biến từ hạt đậu nành.

 

Anh Nguyễn Ngọc Dư ở Thuận Thành, Bắc Ninh bị liệt dương. Lúc đầu anh không định lấy vợ và đi bộ đội để gia đình không giục chuyện trăm năm. Nhưng cô bạn học của Dư rất yêu anh, đã chờ đợi anh suốt 3 năm liền, không yêu ai cả.

Trước ngày cưới, anh thú thật với người yêu tình hình bệnh tật của mình, nhưng người yêu của anh bất chấp tất cả và nói rằng: “Tình yêu cao quý hơn tình dục. Có tình yêu là có hạnh phúc”. Nhưng lấy nhau 6 năm mới thấy rằng nếu không có tình dục thì cũng không có đời sống vợ chồng thật sự và “Lấy chồng mà không có con/ Như bông hoa nở trên non một mình”.

Anh Dư gợi ý và bật đèn xanh cho vợ đi kiếm một đứa con. Khi con gà mái tơ muốn nhảy ổ, anh lót ba ổ rơm. Vợ anh hỏi: “Lót làm gì nhiều ổ rơm thế?”. Anh bảo: “Anh lót như thế để gà nhà ai đẻ vào ổ rơm nhà mình cũng là trứng của mình”.

Nhưng chị vợ nhất định không chịu, nằng nặc đòi vào Bệnh viện Từ Dũ để thụ tinh trong ống nghiệm. Cách này tốn nhiều tiền mà vẫn là giọt máu của người khác. Có một vị lương y bày cho anh cách chữa liệt dương như chúng tôi đã trình bày ở trên. Anh Dư làm theo và thành công. Vợ anh sinh đôi một trai một gái.

Trong trường hợp anh chị muốn “giải quyết” nhu cầu cá nhân một cách lành mạnh, có thể sử dụng viên HappyGra – Viagra thảo dược tự nhiên. Với người bị yếu sinh lý hay xuất tinh sớm thì có thể dùng Maxiboost để cải thiện sức bền.